LỊCH SỬ LÀNG KHỔNG LÝ - XÃ BÌNH LÃNG - TỨ KỲ - HẢI DƯƠNG 孔 里 地 誌
LỊCH SỬ LÀNG KHỔNG LÝ - XÃ BÌNH LÃNG - TỨ KỲ - HẢI DƯƠNG
孔 里 地 誌
Khổng Lý (tiếng Hán: 孔 里) là tên một Thôn
(làng) trong lịch sử thuộc xã Bình Lãng, tổng Phan Xá, phủ Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương. Từ ngày 16 tháng 6 năm 2025, làng Khổng Lý thuộc xã Đại Sơn,
TP. Hải Phòng.
1. Tên gọi và lịch sử:
Chưa có một cách giải
thích cuối cùng về tên gọi của địa danh này. Nhưng theo cách chiết tự của Hán
Ngữ thì: "Khổng Lý" có nghĩa là "Làng của họ Khổng".
Cách giải thích này càng có lý hơn khi tên Thành hoàng của Thôn này là "Khổng Phàm cư sĩ đại vương" (孔 凡 居 士 大 王). Vậy nên cho đến nay các nhà nghiên cứu
vẫn coi đây là cách giải thích thỏa đáng nhất.
Thêm nữa, cũng chưa
biết tên “Khổng Lý” bắt đầu được gọi từ bao giờ; chỉ biết bi ký “Thái
phụ Nguyễn thị trị sản trí phú tự sự bi ký” ở lăng Bà Bổi Lạng (ở thôn
Đông) được khắc ghi năm 1720 thì đã nhắc đến cái tên này rồi (đoạn: “孔 里 社 使 錢 壹 百 貫”: “Khổng Lý xã sử tiền nhất bách
quán” nghĩa là: (Bà Bổi) biếu xã Khổng Lý 100 quan sử tiền).
Ở Đống Cao xưa vốn là mộ Hán mà ngày nay người ta vẫn
tìm được những viên gạch của mộ Hán có niên đại rất xa xưa tới gần 2000 năm -
đây là những cổ vật sớm nhất còn được biết đến trên địa bàn xã Bình Lãng.
2. Địa giới và
diện tích
Khổng Lý nằm ở phía bắc của xã Bình Lãng. Lãnh thổ, bắc vốn đến
cửa sông Dọc (*), nam đến khu vực đường Mả Vóc,
Ngõ Bàng (𡉦 旁), tây đến ngã ba cửa sông Giếng Củng đổ vào sông
Dọc (khu Mắt Rồng). (Địa bạ năm 1805 có đoạn:“壹 段 以 本 村 与 伊 社 我 𠀧 溪 口 爲 界": nhất đoạn dĩ bản thôn dữ y xã
(Lạc Dục)Ngã ba khê khẩu vi giới")
Các mặt tiếp giáp: phía Bắc và phía Tây giáp xã Lạc Dục (tổng Mỹ
Xá) nơi có dòng sông Dọc uốn khúc từ sông Thái Bình (Cái) xuôi về phía nam.
Phía đông giáp sông Thái Bình (Cái), đông nam giáp khu vực đường Đống
Tráng thôn Thượng.
Đất đai ở đây chủ yếu
là đất phù sa màu mỡ.
Về diện tích, theo Địa bạ của Khổng Lý mà các sắc mục xã Bình
Lãng cùng Thôn trưởng Khổng Lý khai thời vua Gia Long (năm 1805), được sao lại
thời vua Tự Đức (năm 1873) thì toàn bộ diện tích của thôn Khổng Lý là 73 mẫu 1
sào 3 thước (xích) 8 tấc (thốn). Phương ngôn còn truyền lại về 4 thôn, xã có diện
tích nhỏ nhất của phủ Tứ Kỳ xưa kia là: "Đông Trù, Quảng Bí, Khổng Lý, Nghĩa Hy" thì có thể thấy: thôn Khổng Lý có diện tích đất ở khá
nhỏ bên cạnh một diện tích ruộng khá lớn mà vết tích còn tồn tại đến ngày nay.
3. Sơn xuyên
Về sông ngòi, Khổng Lý
được bao bọc bởi sông Cái và sông Dọc (đoạn qua Khổng Lý dài 2.6 km), trong
lịch sử, Khổng Lý còn có sông Giếng Củng (汫 鞏) cũng chảy theo hướng bắc - nam (lấy
nước từ sông Cái và đổ vào sông Dọc) - chính dòng sông này là ranh giới
ngăn cách 2 miền đất nông nghiệp trù phú của Khổng Lý là "đồng" và
"triều". Sông Dọc và sông Giếng Củng chảy song đôi, uốn khúc như 2
con rồng, ôm trọn một vụng nước lớn gọi là "Vụng Lạng" mà
cửa vụng chính là 2 mỏm: Đống Dùi và Đầu Đàng (ngày nay, Vụng Lạng là toàn bộ
khu "ruộng triều"). Năm 1959, do nhu cầu đào kênh dẫn nước và
đắp đê trị thủy sông Thái Bình mà một dòng sông mới được tạo ra ở rìa phía đông
của làng với tên gọi nôm na là sông Máng. Chính con đê đã tạo cho
Khổng Lý một vùng bãi bồi rộng lớn, phì nhiêu ven sông Cái. Tụ lại ven các
dòng sông kia là những gò đất khá lớn như: Đống Dùi (Long Đao), Đống Dâu (Cổ
Ngựa), Đống Trùa (hoặc có thể là Đống Trù) (Lọng Ụp) (ven sông Dọc); Đầu Đàng, Nhà Vua, Đống Nội, Đường Mả (ven sông Giếng Củng); Đống Cao (埬 槹) vốn có 4 đống đất sét lớn với diện tích 2 mẫu
2 sào 10 thước 5 tấc), Đường Miếu (có 3 đống) (ven sông Cái).
Ngoài giếng đình
(ở xóm Ngoài), Khổng Lý còn có giếng Miếu và giếng làng ở xóm Trong.
4. Dân cư và Dòng tộc
Những cư dân đầu
tiên của Khổng Lý từ xa xưa đã định cư ở ven bờ bắc của vụng sông
Giếng Củng rồi không ngừng lan tỏa ra các khu vực khác. Giữa thế kỉ XX, Khổng
Lý có khoảng hơn 30 hộ gia đình với gần 200 nhân khẩu. Nơi đây, 5 dòng họ
bản địa (tục gọi là: NGŨ NGUYỄN TIÊN TỘC) đã định cư, gắn bó từ lâu
đời là: Nguyễn Đức 阮 德 ,Nguyễn Ngọc 阮 玉 (cụ tổ: Nguyễn Ngọc
Đường, giỗ: rằm tháng giêng, táng tại Đường Đống Trùa (Trù)), Nguyễn
Đình 阮 廷, Nguyễn Văn 阮 文,Nguyễn Đắc 阮 得 . Trong đó, họ Nguyễn Đức, Nguyễn Ngọc nhiều
đời đã cai quản làng Khổng Lý. Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, có họ Đặng (cụ
Đặng Phúc Công); họ Phạm đến mà hợp thành "Thất tộc Khổng Lý". Kể từ sau năm 1954, đặc biệt từ đầu thập
niên 1970, nhiều họ khác lần lượt đến định cư ở đất này. Đến năm 1993 có
110 hộ với 526 nhân khẩu.
Nay, Dân số của Khổng
Lý (năm 2016): 648 người với 192 hộ gia đình; (184 nóc nhà).
Nhiều dòng họ đã khôi
phục được Nhà thờ: họ Nguyễn Ngọc, Nguyễn Văn (22/2/Nhâm Dần - 2022) ...
Bia "An Lạc tự bi
ký" (soạn năm Tự Đức thứ 29 - năm 1866) có nhắc đến ông Nguyễn Văn
Tăng và Nguyễn Văn Huy công đức xây dựng chùa Núi 1
quan tiền.
5. Hành chính
Về đơn vị xóm, Thôn
Khổng Lý có 2 xóm là: Xóm Trong và Xóm Ngoài mà ranh giới được quy ước là Cầu
đá. (2)
Về đơn vị giáp, Cả
thôn có 3 giáp là: Giáp Đông, Giáp Nam và Giáp Trung. (3)
6. Luật và lệ
Luật lệ chính thức của thôn Khổng Lý được ghi trong Hương ước
của xã Bình Lãng từ rất lâu đời. Từ năm 1921, chính quyền cai trị của Pháp ở
Việt Nam đã thực hiện một cuộc cải lương hương chính ở Bắc Kỳ, xã Bình Lãng đã
viết một bản Hương ước mới vào năm 1936 trong đó có các điều khoản quy
định của thôn Khổng Lý. Bản Hương ước cải lương này đã kế thừa phần nhiều bản
hương ước cổ và nó chấm dứt hiệu lực sau Cách mạng tháng Tám.
Từ tháng 11/2001, dưới
nỗ lực của Bí thư Nguyễn Văn Hiếu (2000 - 2002), việc đưa tang ở làng Khổng Lý
được chuyển từ chiều sang sáng.
7. Nghề tiện và truyền
thống Làng thợ
Cư dân ở đây sống chủ
yếu bằng nghề trồng lúa, ngoài việc sử dụng nguồn nước từ con sông Giếng Củng ở
phía tây và sông Cái ở phía đông thì cha ông người Khổng Lý đã nhân tạo được
một hệ thống thủy lợi liên hoàn bằng việc lấy nước từ vụng sông Giếng Củng dẫn
lên dọc Lỗ Thủy rồi tỏa ra 2 bên theo hệ thống mương hào theo kiểu chữ chữ Vệ
( 卫 )
Xen lẫn giữa những vụ
lúa chiêm, mùa là nghề thủ công khá nổi tiếng: nghề tiện (dân
gian có câu: "Thượng làng chợ, thợ làng Khổng" để
nói về truyền thống làng thợ của Khổng Lý); những thợ tiện có tay
nghề nổi tiếng đầu thế kỉ XX có thể kể đến như cụ Lý Cúc (Nguyễn Văn Điệp,
1913-1952), cụ Cả Mậu (Nguyễn Văn Long), cụ Cả Liễn... Những nam giới ở
đây trong lịch sử, thường đem nghề của mình đi kiếm sống ở các tỉnh xa. Đôi bàn
tay tài hoa của những người thợ tiện Khổng Lý đã in dấu trong nhiều sản phẩm ở
các địa phương. Ngày nay, sự phổ biến của nghề mộc được coi là
sự tiếp nối của hậu thế cho nghề tiện đặc trưng của tiền nhân Khổng Lý xưa.
Dưới thời hợp tác xã nông nghiệp (1958 - 1992), năm 1961, các
đội sản xuất nông nghiệp ra đời ở Bình Lãng. Ở Khổng Lý, một tổ chức kinh tế
nông nghiệp đã ra đời là "đội sản xuất nông nghiệp Quang Trung" với trung tâm là sân kho thuộc đất của cụ Tuần Thủ (1902 -
1971); bà Nguyễn Thị Bích, ông Nguyễn Ngọc Đài là những Đội trưởng đầu tiên; thời
gian sau là các ông Đặng Bá Chỉ, Nguyễn Văn Thọ (1973-1974)...Từ năm 1991 đến
tháng 8/2006, quản lý Khổng Lý là chức danh "Xóm trưởng" (ông
Nguyễn Đình Nhẫm).
8. Đường sá
Đường làng (hương lộ)
gọi nôm là "đường cái": xưa kia, Khổng Lý đã làm
được một con đường đi trong thôn bằng hai hàng đá phiến xanh từ xóm Trong
ra đến xóm Ngoài (từ ngõ ông Duyện đến ngõ ông Tỉnh). Tiếc là, nay đã chỉ
còn duy nhất một phiến đá lớn (cự thạch) bắc qua "Lỗ Thủy" mà
người dân quen gọi là "Cầu đá" đã nằm sâu dưới con đường
mới. Năm 2006, dưới nỗ lực của Bí thư Nguyễn Văn Hiếu và Xóm trưởng Nguyễn
Đình Nhẫm đường làng được trải bê tông.
Đường đi ra bên ngoài;
Bên cạnh những con đường thủy khá phổ biến "trên bến dưới thuyền" ở
sông Làng (Giếng Củng), cư dân nơi đây còn nhắc đến một con đường bộ đi từ
trong làng Khổng Lý tới Bến Đò Lạng cổ (ở cạnh gốc đa Đống Cao), đi sang làng Thượng
thì bằng con đường từ xóm Trong thẳng sang ngõ Bàng...
9. Văn hóa tâm linh
Thôn Khổng Lý có 1
đình, 1 chùa và 1 miếu chính. (5)
Đình Khổng Lý có 5
gian, nằm ở khu vực Đường Mả, tọa Đông Bắc hướng Tây Nam, phía trước có sân
đình và giếng đình hình tròn, xa xa là sông Làng (Giếng Củng). Tòa đình muộn
nhất được xây dựng khang trang vào đầu thế kỉ XX do cụ Nguyễn Ngọc Tụy là người
cất nóc. Cư dân nơi đây còn tự hào về những nét đẹp của ngôi đình này. Đình thờ
Thành hoàng của Thôn là Ngài "Khổng Phàm cư sĩ đại vương" (****)
với với 5 lần sắc phong của các vua nhà Nguyễn: Sắc phong ngày mồng 10 tháng 11
năm Tự Đức thứ 6 (1853) là "Linh Phù chi thần"(靈 扶 之 神), năm Đồng Khánh thứ 2 (1886) là Dực
Bảo Trung hưng chi thần,...Thành hoàng được thờ bằng bài vị. Các ngày lễ chính
ở Đình Khổng Lý: Mồng 5 Tháng Giêng, mồng 9 tháng 3, mồng 9/9 và mồng 10 tháng
11. (6) Hiện nay, ngôi đình chưa được khôi phục.
Chùa Khổng Lý cũng tọa lạc ở khu vực Đường Mả, giống như đình
Khổng, chùa có thế dựa lưng vào Đống Nội quay hướng tây nam ra vụng sông Giếng
Củng, chùa có nhiều tượng mà dân gian vẫn còn nhắc đến tượng "Ông Đức
Chúa" (Đức Chúa Ông), "Bà Mụ Thiện" (12 tay)...; Đầu thập
niên 1930, cụ Phạm Văn Duệ từng làm thủ tự trông chùa ở đây; Chùa bị phá dần từ
sau năm 1945, hiện nay ngôi chùa này cũng chưa được khôi phục.
Miếu Khổng Lý quay
hướng ra sông Cái, nằm cạnh chuôm của ông Nguyễn Đình Mặc cho nên hay được gọi
là Miếu ông Mặc. Miếu thờ Thành hoàng của Thôn Khổng Lý. Ngôi Miếu chỉ mới bị
phá bỏ từ năm 1975 cùng rất nhiều ngôi miếu khác ở Bình Lãng.
Ngoài ra, còn một ngôi
miếu thờ ông tổ nghề tiện Khổng Lý (nghiệp tổ). Gần đó, cũng có một lầu thờ
quan Bắc quốc Ngô Văn Điền.
Đường (khái niệm chỉ nơi chôn cất người chết xưa kia), Trong
suốt chiều dài lịch sử Khổng Lý có rất nhiều "Đường" như vậy: Đường Mả,
Đường Đống Cao, Đường Đống Chùa/Trù, Đường Đống Dâu, Đường Đống Nội, Đường
Chùa/Trù (trải từ đường Thước thợ qua Ao Ổ gà chạy đến Lỗ Thủy), Đường Nhà Vua, Đường Đầu Đàng
(2003) ...
|
10.
Nhân vật |
Nhiều người thuộc dòng họ Nguyễn Đức, Nguyễn Ngọc có tiếng vì sở
hữu nhiều ruộng đất và giữ vai trò cai quản làng : Cụ Lý Quyện (Nguyễn Đức
Quyền), cụ Hương Miễn (Nguyễn Đức Nõn) (1878 - 1948) - Hương
trưởng; Người cai quản thôn Khổng Lý cho đến khi mất vì trúng đạn Pháp
trong "Sự kiện 30-tháng Giêng - năm Mậu Tý" (10/3/1948)
- Cụ Hương Na (Nguyễn Ngọc Đảng), Hương trưởng Khổng
Lý (đầu XX).
Các con của ông Hương Miễn như:
- Bà Nguyễn Thị Biếc (1903 - 1977), bà Nguyễn Thị Liệng (1904 -
1947), ông Thủ Ảm (Nguyễn Đức Miễn) (1908 - 1968).
- Ông Hương Thước (Nguyễn Đức Viện) (1910 - 1948) - Hương
trưởng Khổng Lý thời điểm năm 1936.
- Ông Nguyễn Đức Vạn (1912 - 1951) - Tộc biểu Hội đồng Hương
chính xã Bình Lãng thời điểm năm 1936.
- Ông Nguyễn Đức Nghìn (Vệ Thống) (1916 – 26/01/1989): Một trong
3 người lãnh đạo cuộc cách mạng tháng Tám giành chính quyền ở xã Bình Lãng năm
1945; Đại biểu HĐND xã khóa đầu tiên (năm 1946);
Ủy viên phụ trách quân
sự trong UB cách mạng lâm thời xã Bình Lãng (1945 – 1949); , xã đội trưởng Bình
Lãng đầu tiên năm 1948 và 1951); Đảng viên Đảng CS Việt Nam năm 1948; Bí
thư chi bộ khu vực Khổng Lý đầu tiên (3/1948 - 1954); Phó Chủ nhiệm Hợp
tác xã Bình Lãng. Ông nghỉ công tác năm 1976. Được tặng thưởng Huy
chương kháng chiến hạng nhất (năm 1964)
- Bà Nguyễn Thị Bích (1926 - 1988) - con gái bà Liệng, bà được
mẹ truyền cho quyền sở hữu lớn về ruộng đất cho đến năm 1956; sau bà là đội trưởng
đội sản xuất nông nghiệp ở Khổng Lý. Bà nghỉ công tác năm 1975. Được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba (năm 1987).
|
Huy
chương Kháng chiến hạng nhất (thưởng năm 1964) của cụ Nguyễn Đức Nghìn |
Ông Nguyễn Văn Nghiêm (SN 1950) -
Bí thư đoàn Thanh niên xã Bình Lãng (1974 - 1975),
Bí thư huyện đoàn Tứ
Lộc (1982-1986), Chánh án Tòa án Nhân dân huyện Tứ Lộc, Tứ Kỳ (1988-2000), ...
Ông Nguyễn Văn Hiến
(1955 - 2023), Trưởng Công an xã Bình Lãng (1991 - 1993), Chủ tịch UBND xã Bình
Lãng (1994 - 1997).
Ông Nguyễn Ngọc Sẫm
(SN 1971) - Chủ tịch UBND huyện Tứ Kỳ (10/2014 -
12/2020), Bí thư Huyện ủy Tứ Kỳ (8/2020-12/2024). Phó trưởng ban thường trực
Ban Nội chính Thành ủy Hải Phòng (7/2025); ông nghỉ hưu năm 2025.
11. Phương ngôn, Sự
tích
"Đầu Trắm, đuôi
Mè, giữa khe Tam Lạng" (Nói
về 3 làng Lạng: Lạng Khổng Lý, Lạng Thượng, Lạng Đông) (9)
"Đông Trù,
Quảng Bí, Khổng Lý, Nghĩa Hy" (4 làng xã nhỏ nhất phủ Tứ Kỳ xưa: làng Đông Trù (sau là
xóm Đống Nấm – xã Thái Lãng) mà thành hoàng là ngài Hóa hợp tôn thần,
xã Quảng Bí và thôn Nghĩa Hy – xã Trúc Lâm)
"Khổng Lý trống thủng, chuông rè
Có ông to nhất bị què một chân"
(Câu
tục của Thôn Thượng về làng Khổng Lý và ông đứng đầu thôn Khổng Lý - Ông Hương
Miễn)
"Thượng làng chợ, thợ làng Khổng"
(dân gian nói về
truyền thống buôn bán của làng Thượng; và truyền thống làm thợ tiện của làng
Khổng Lý)
Sự tích về địa danh Đường Nhà Vua bên sông Lục Đức: Là nơi
mà xưa kia, vào đầu thế kỉ XV, vua Vua Lê Thái Tổ đi đánh giặc Minh qua sông
Thái Bình, thuyền rồng không đi được, Vua đã vào đây để nghỉ tạm và hỏi dân
làng Khổng Lý đầu đuôi duyên cố thì mới biết do Thái Bà ở Lạc Dục đã thả 2 ông
rắn xuống sông. Nhà Vua cho triệu Thái Bà để tra hỏi, Thái Bà nguyện theo vua
đi đánh giặc và mật khấn thủy thần, thuyền rồng liền đi được. Theo truyền
thuyết đó cũng là nơi bà Chúa Chén gặp chúa Trịnh Tùng vào năm 1606.
(Bản quyền thuộc về: Ban Nghiên cứu Lịch
sử Làng Xã trung ương Hà Nội)
( 撰 者: “孔 里 歷 史 教 员 阮 廷 山”)
12.Sự kiện:
Ngày 10/3/1948 (30
tháng Giêng), Pháp tấn công làng từ Đường Mả, 7 người dân Khổng Lý bị giết.
Tháng 4/1953, diễn ra
trận đánh tiêu biểu chống Pháp trên địa bàn Khổng Lý.
Năm 1966, 1967, địa
giới Khổng Lý bị thu hẹp từ cửa sông Dọc về Đống Dùi.
Giữa năm 1997 - 1998,
dưới sự dẫn dắt của những Đảng viên như ông Nguyễn Văn Hiếu, nhân dân Khổng Lý đã đoàn kết đấu tranh với UBND xã, huyện, tỉnh
để yêu cầu 32 chủ lò gạch ở bãi sông Thái Bình phải bồi thường thiệt hại do
khói của những lò gạch này gây ra cho lúa. Kết quả: Sau một thời gian dài đấu
tranh bền bỉ, cuối cùng, Cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi lớn, 32 chủ lò
gạch phải bồi thường cho người dân số tiền là 60 triệu đồng; liền sau đó 32 lò
gạch thủ công này đã bị buộc phải tháo dỡ, ngưng hoạt động.
Khổng Lý lưỡng hoa
viên:
Dân hoa viên (19/5/2025)
Hương hoa viên (01/12/2025).
Trích dẫn từ thông tin của cụ Nguyễn Ngọc Phù (89 tuổi) và Viện Viễn Đông Bác cổ ngày 26 tháng 9 năm 2016.
Những người có công
khác trong Thời kháng chiến chống Pháp, Mĩ:
- Ông Nguyễn Ngọc Tỉnh
(Tuần Tỉnh) (mất năm 1980), Ủy viên Hội Nông dân cứu quốc xã (1946 - 1954) (được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất); nuôi giấu cán bộ (được tặng Bằng khen).
- Ông Nguyễn Đình Tấn
(1912 - 1989) - Giao thông liên lạc đầu tiên của Ủy ban kháng chiến xã (1946 -
1950) - được tặng Bằng khen.
- Bà Nguyễn Thị Yểng
(1907 - 1976), nuôi giấu cán bộ, được tặng Bằng Khen
------------------------------------------------------
- Đại úy Nguyễn Đức Ảm
(1934 - 1995), nhập ngũ năm 1951, Đảng viên ĐCSVN năm 1956, nghỉ hưu
1981. Được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất (năm
1987).
- Thượng tá Nguyễn
Đình Thậm (9/2025).
- Bà Nguyễn (Đắc) Thị
Quý (1931 - 1954), Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
- Bà Nguyễn (Đình) Thị
Ngừ (1907 - 1981) - Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
- 8 người con Khổng
Lý đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
...
---------------------------------------------------
*. GIÁO DỤC: Thời phong kiến, nhiều người Khổng Lý
nổi tiếng vì hay chữ, làm thầy đồ dạy học; Sang thập niên 1970 có một số con em
Khổng Lý đi học cấp III, đầu tiên phải kể đến như ông Nguyễn Văn Nghiêm (1970),
bà Nguyễn Thị Nhuận (khóa 1971 - 1974), ông Nguyễn Ngọc Hưng
(khóa 1975 - 1978); Đặc biệt phát triển trong khoảng thời gian từ giữa thập
niên 1980 đến năm 2007, có nhiều người đỗ đạt, công tác như: ông Nguyễn
Đình Dũng đỗ Cử nhân Tài chính (năm 1986), ông Nguyễn Ngọc Sẫm (Cử
nhân Nông nghiệp, 1989)... Đặc biệt gia đình cụ Nguyễn Ngọc Phù là gia đình
hiếu học tiêu biểu, hiếm có khi cụ nuôi được 4 người con trai, gái tốt nghiệp
cấp III, đại học trong thời kì hợp tác xã.
Nhận xét
Đăng nhận xét