ĐÂU LÀ NIÊN ĐẠI SỐNG CỦA VƯƠNG PHỦ ĐỆ TAM CUNG TẦN NGUYỄN THỊ NGỌC CHÉN?
ĐÂU LÀ NIÊN ĐẠI SỐNG CỦA VƯƠNG PHỦ ĐỆ TAM CUNG TẦN NGUYỄN THỊ
NGỌC CHÉN?
Nguyễn Đình Sơn (Giáo viên Lịch sử, trường THPT Tứ Kỳ)
Tại Hội thảo khoa học ngày 20/9/2026, cũng như trên bia mộ
(được khắc dựng vào năm 1999) đã cung cấp niên đại sống tuyệt đối của Vương phủ
đệ tam cung tần Nguyễn Thị Ngọc Chén là sinh năm 1589 mất năm 1626; tuy nhiên
trong lịch sử Đảng bộ xã Bình Lãng (xuất bản năm 2015) lại cho rằng bà sống vào
thời chúa Trịnh Tạc (1657 – mất ngày 23/8/1682 âm lịch). Vậy đâu mới là niên đại
sống phù hợp của bà? Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo Hội thảo của Bí thư Đảng ủy
xã Đại Sơn Trịnh Ngọc Ánh là “không tổ chức Hội thảo để tìm kiếm sự xác nhận
cho một kết luận có sẵn” nên sau khi nghiên cứu tài liệu, xâu chuỗi logic nội
dung, thông tin từ các tấm bia cổ, tôi xin gửi một số quan điểm như sau:
1. Đối tượng mô tả, ca ngợi trong “Sùng Minh tự bi” (1620) là ai?
Bia không viết về bà Chúa Chén. Nhân vật trung tâm của bia
ký được đề cấp đến là công lao “hưng công” hội chủ “khó mà kể xiết”, “công
đức vẹn tròn”, “tiếng thơm truyền mãi” của Lũng Quận công Nguyễn
Chiêu Độ cùng các tín thí khác...
Còn dòng chữ nhắc đến đóng góp của Bà Chúa Chén trước lạc
khoản của bia này: “Vương phủ nội cung Nguyễn Thị Ngọc Chén xây dựng lầu hậu
đường và tả hữu hành lang” (đóng góp
của Chúa Chén về xây dựng “lầu hậu đường” và tả hữu hành lang) là chi tiết được
đưa vào rất khiễn cưỡng, đã đặt ra nghi vấn là được khắc thêm vào sau này (năm
1664).
Tiểu kết: bà Chúa Chén chưa thể xuất hiện trong bia ký
năm 1620.
2. Tả hữu hành lang và lầu hậu đường được xây dựng năm nào?
Trong khi các công trình của chùa Sùng Minh là: tiền đường,
thiêu hương, thượng điện được xác định là xây dựng từ năm 1608 đến 1610 nhờ sự
hưng công của Lũng Quận công Nguyễn Chiêu Độ, thì các công trình bọc ngoài: tả
hữu hành lang, lầu hậu đường lại gây nghi ngờ về năm xây dựng. Nếu nó được xây
dựng năm Giáp Thìn 1604 thì có nghĩa là xây dựng trước cả các hạng mục quan trọng:
tiền đường, thiêu hương, thượng điện? đây là điều vô lý và tại sao năm xây dựng
2 công trình đó lại được tách ra và nhắc đến ở mặt bia Tín thí chứ không liền mạch
1604-1608-1610 ở “Sùng Minh tự bi”? Vậy nên các công trình đó không thể được
xây dựng vào năm Giáp Thìn 1604 mà phải được bắt đầu xây dựng vào 1 năm Giáp
Thìn khác, đó là 1664 nhờ công lao của Khiêm Định phủ thị nội cung tần Nguyễn
Thị Ngọc Chén; và khi đó người ta lập mặt bia Tín thí (mặt sau của bia Sùng
Minh tự bi) ghi công những người đóng góp xây dựng năm 1664 và vì một lý do nào
đó đã khắc thêm vào bia “Sùng Minh tự bi” dòng chữ “Vương phủ nội cung Nguyễn
Thị Ngọc Chén xây dựng “lầu hậu đường” (hậu đường các), tả hữu hành lang”.
3. Về niên đại và nội dung mặt bia Tín thí và dòng chữ “Vương phủ nội
cung Nguyễn Thị Ngọc Chén cấu tác hậu đường các, tả hữu hành lang...” (ở mặt
bia năm 1620): Mặt bia TÍN THÍ là măt bia độc lập (khắc năm 1664) chứ KHÔNG
phải là mặt bia thứ hai của “Sùng Minh tự bi” (1620).
Mặt bia Tín thí KHÔNG phải là mặt bia thứ hai, tiếp nối của
“Sùng Minh tự bi” (ghi tên những
người cúng dường cho đợt hưng công do ông Nguyễn Chiêu Độ đứng ra các năm
1608-1610) mà là một mặt bia độc lập (cả về niên đại và nội dung) ghi lại
những người đóng góp cúng dường cho đợt trùng tu sau này (năm 1664) khi
bà làm tả hữu hành lang và và lầu phía sau chùa. Bởi những tín thí cúng dường
các công trình trong chùa năm 1608-1610 đã được ghi rất chi tiết trong chính mặt
bia “Sùng Minh tự bi” rồi (từ việc cúng xây dựng các công trình đến cúng tiền, ruộng,
ao...nên không cần thiết và thật khó hiểu nếu phải thêm một mặt bia Tín thí nữa
cũng chỉ để ghi việc cúng ruộng, tiền).
Dòng chữ ghi bà cúng tiến ở gần lạc khoản của bia “Sùng Minh tự bi” năm
1620 là sau này thêm vào (năm 1664). Cuối mặt bia Tín thí ghi “năm Giáp
Thìn, lần đầu xây dựng tả, hữu hành lang và lầu phía sau chùa (hậu các)”
trùng khớp với đoạn cuối gần lạc khoản của bia Sùng Minh tự bi: “Vương phủ nội
cung Nguyễn Thị Ngọc Chén xây dựng “lầu hậu đường” (hậu đường các), tả hữu hành
lang” đã chứng minh cho đoạn thông tin được thêm vào cuối bia Sùng Minh tự
bi.
4. Cùng những công trình tương đồng của một ngôi chùa mà lại được xây, rồi dựng
lại chỉ sau một khoảng thời gian 5-7 năm (1608 – 1615)?
“Sùng
Minh tự bi” nhắc đến việc xây dựng (doanh tạo): thượng điện, thiêu hương (1608),
tiền đường (1610), hậu đường; Bia “Kiến Sùng minh tự...” (1682) nhắc đến
việc: “tu tạo” thượng điện, hậu am năm Quý Sửu; “tái tạo” tiền đường, thiêu
hương, hành lang, hậu các (năm Ất Mão). Năm Quý Sửu được chú dịch là năm 1613,
năm Ất Mão được chú dịch là năm 1615 là rất khó hiểu, vì đó là những
công trình tương đồng của một ngôi chùa nhưng lại được dựng lại chỉ sau một khoảng
thời gian ngắn 5-7 năm (1608 – 1615). Đây là điều rất vô lý, không thể chấp nhận
về mặt logic lịch sử trong bối cảnh đất nước thái bình không có chiến tranh phá
hoại gì. Vậy Quý Sửu và Ất Mão ở đây không phải là 1613, 1615 thì là năm
nào? Đó phải là các năm 1673 và 1675, khi các công trình đã trải qua gần 70 năm
hưng công xây dựng của ông Nguyễn Chiêu Độ thì nay mưa nắng hư hỏng, bà Chúa
Chén mới đứng ra tu tạo, tái tạo.
5. Mặt bia “Phụng sự Nguyễn gia...” (1682) hé lộ thông tin gì về niên đại sống
của bà?
Mặt bia ghi việc “đem ruộng đất, ao hồ ban cấp cho 2 quê nội ngoại dùng
để phụng thờ các ngày giỗ chạp...” có ghi những ngày giỗ chạp của tất cả các
thành viên trong gia đình bà từ ông bà nội, cha mẹ đến cô ruột và em gái ruột nhưng
tuyệt nhiên không thấy ghi ngày giỗ của bà. Tại sao lại như vậy? Là vì ở thời
điểm lập bia ghi ngày cúng giỗ này (năm 1682) là bà vẫn đang sống và chính bà,
do lo ngại gia đình không có nối dõi, không có ai thờ cúng sau khi bà mất, nên
sau khi cúng tiến tài sản, bà đã lập tấm bia đó “để hương hỏa được lưu truyền
mãi mãi”. Vậy là, thời điểm năm 1682, bà Chúa Chén vẫn còn sống.
Ngày giỗ của bà 9/8 âm lịch là do đời sau truyền lại để thờ cúng chứ không hề
có tấm bia nào ghi ngày giỗ đó cả.
6. Về niên đại năm sinh năm mất 1589 – 1626:
Đây là một niên đại tuyệt đối đáng kinh ngạc, không khỏi làm người ta nghi ngờ về khả
năng truyền miệng chính xác qua khoảng 400 năm. Hiện, không có bằng chứng gốc
nào chứng minh cho niên đại này ngoài truyền ngôn và bia mộ mới được dựng năm
1999 ở mộ của bà; Hơn nữa, đó không phải là niên đại duy nhất, bởi ở quê nội của
bà – Bình Lãng – cuốn lịch sử Đảng bộ xã Bình Lãng lại ghi nhận năm sinh của bà
là 1664 và bà là vợ cúa chúa Trịnh Tạc (hiện, các tài liệu chỉ khẳng định bà
là vợ của Trịnh vương (Chúa Trịnh) chứ không có tài liệu nào khẳng định cụ thể
bà là vợ chúa Trịnh Tùng).
Niên đại 1589 – 1626, đặc biệt là năm mất 1626 không phù hợp với logic lịch
sử khi đối chiếu với các bia hiện còn cũng như đoạn thông tin trên cột đình
làng Thượng. Mặt bia “Hậu đường” và “Thư khế” chính là nói về việc năm 1682, bà đã mua 5
sào đất (với giá 50 quan tiền) ở Đống Ông Hùng (Đường Lăng) – nơi đã an táng mẹ
bà - để dựng Hậu đường và làm “đất hương hỏa”, an nghỉ lâu dài cho mình ở đó.
Bà đã lập Thư khế (khế ước) vào ngày 06 tháng 02 năm 1682 để làm bằng chứng ghi
nhớ, lưu truyền lâu dài.
7. Tạm kết: chùa Sùng Minh thế kỉ XVII, có 2 đợt trùng tu lớn. Đợt 1 là nhờ
công lao lo lớn của Lũng quận công Nguyễn Chiêu Độ đã đứng ra hưng công xây dựng
các công trình... trong các năm 1608-1610, đợt đó có sự đóng góp của gia đình
bà Chúa Chén như: bà nội, ...(được ghi lại trong bia Sùng Minh tự bi - năm
1620).
Đợt 2 được trùng tu là nhờ công lớn của bà Chúa Chén đứng ra xây dựng các
công trình: tu tạo thượng điện, hậu am; tái tạo: tiền đường, thiêu hương, hành
lang, hậu các, ...trong khoảng các năm Giáp Thìn 1664 (những người đóng góp
cúng dường có ghi lại ở mặt bia Tín thí), đợt năm Quý Sửu 1673, Ất Tỵ 1675 (Được ghi lại
trong bia năm 1682 – Kiến Sùng Minh tự ...).
Bà Chúa Chén không mất vào năm 1626, bà vẫn còn sống đến
năm 1682, đồng thời bà cũng
không thể xuất hiện ở thời điểm năm 1620 (chưa kể là năm 1604). Theo nghiên
cứu giám định của bảo tàng Hải Dương thì bà thọ 43 tuổi (Bản thảo Kỷ yếu trang
57), vì vậy niên đại của bà là khoảng năm 1639 – 1682 và bà là vợ của
chúa Trịnh Tạc. Điều này phù hợp với đoạn thông tin trên cột đình làng Thượng ở
quê nội của bà:“Thời Lê, những năm Cảnh Trị (1663 – 1671), Vương phủ đệ tam
cung tần Nguyễn Thị Ngọc Chén phụng tiến ruộng, ao ở các xứ sở...” Ngày giỗ
của của bà là đời sau truyền lại và được khắc trên cột đình làng Thượng chứ
không có bia đá đương thời nào ghi cả.
8. Kiến nghị:
- Đối chiếu, xâu chuỗi tài liệu xác minh lại niên đại sống của bà Chúa Chén
một cách khoa học, đúng logic lịch sử nhằm đặt bà vào đúng thời đại và bối cảnh
lịch sử.
- Cần có biện pháp bảo vệ những tấm bia hiện còn ở chùa Sùng Minh và mộ bà
Chúa Chén.
- Vẽ lược đồ các hạng mục chùa Sùng Minh sau đợt tu tạo của bà chúa Chén.
- Lập biển và bia ghi dấu tích nền cổ chùa Sùng Minh.
- Nghiên cứu, xác định vị trí của “hậu đường” được xây dựng năm 1682 ở khu
mộ của bà và có kế hoạch phục dựng lại công trình này.
- Cần nghiên cứu lại tên của người em gái ruột của bà: có thuyết đọc là Ngọc
Du chứ khống phải là Ngọc Tồn.
- Cần nghiên cứu nghiêm túc, khách quan, công tâm để trả lại đúng họ tên đầy
đủ cho thân mẫu của Bà Chúa Chén là Hoàng Thị Đũa (không có bia nào nói bà họ
Vương nhưng có 2 tấm bia nói bà họ Hoàng.)
- Cũng cần nhận thức vị chúa Trịnh chính thức đầu tiên là chúa Trịnh Tùng
(Bình An vương) chứ không phải Trịnh Kiểm (Quốc công)
- Cần đối chiếu, nghiên cứu thông tin trên cột đình làng Thượng (xã Bình
Lãng) như đoạn: “Thời Lê, những năm Cảnh Trị (1663 – 1671), Vương phủ đệ tam
cung tần Nguyễn Thị Ngọc Chén phụng tiến ruộng, ao ở các xứ sở...”
Khổng
Lý, ngày tết Trung Thu, năm 2026


Nhận xét
Đăng nhận xét